Nhân việc tân tổng thống Donald Trump đắt cử. Xem lại luật nhập cư Hoa Kỳ cho đảng viên cộng sản


Theo vietnamville.ca|

Đảng viên CSVN bị cấm nhập tịch, định cư các nước Tây phương Tự do

Cánh cửa nhập tịch Mỹ, Canada  và Âu Châu có thể đóng lại với những ai có bất cứ mối quan hệ trực tiếp hay gián tiếp nào với một đảng cộng sản trong vòng 10 năm vì họ được coi là phần tử bất hảo có hại cho xã hội loài người.

Nhưng vẫn có ngoại lệ.

Câu hỏi số 10 trên mẫu đơn N-400 xin gia nhập quốc tịch (Form N-400 – Petition for naturalization) là câu hỏi nhạy cảm với nhiều người đến từ Việt Nam hay Trung Quốc: “Quý vị có bao giờ từng là thành viên hay có bất kỳ mối liên hệ (trực tiếp hay gián tiếp) với a) đảng cộng sản, b) Bất kỳ đảng độc tài nào khác, và c) Một tổ chức khủng bố?”

Câu hỏi số 10 và toàn bộ mẫu đơn N-400 sẽ được dùng để hỏi trực tiếp người nộp đơn trong buổi phỏng vấn thi nhập quốc tịch, dưới sự tuyên thệ với tòa án và chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu khai man. Sau đó, nếu đơn xin nhập tịch được chấp thuận, trước ngày lễ tuyên thệ, người nộp đơn còn phải trả lời 3 câu hỏi trên một lần nữa trong mẫu đơn N-445, tại câu hỏi số 5, tái khẳng định trong thời gian chờ đợi từ ngày phỏng vấn đến ngày tuyên thệ, họ không tham gia đảng cộng sản, bất kỳ đảng độc tài nào khác, hay một tổ chức khủng bố.

Theo số liệu của Viện Chích sách Nhập cư Hoa Kỳ (MPI), cho đến cuối năm 2012, nước này có đến 1.3 triệu người Việt Nam nhập cư, chiếm hơn 0,4% tổng dân số. Đây cũng là cộng đồng nhập cư lớn thứ 6 ở Mỹ, sau cộng đồng Mexico, Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines và Cộng hòa Dominican. Cộng đồng người Việt Nam nhập tịch gia tăng nhanh chóng từ 231 nghìn người năm 1980. Họ chủ yếu là những thuyền nhân Việt Nam vượt biên sau năm 1975, sau khi định cư tại Mỹ, họ đón người thân sang theo diện đoàn tụ gia đình. Một bộ phận đáng kể và ngày càng lớn hơn là các du học sinh ở lại sau khi học xong, người lao động có tay nghề và nhà đầu tư. Cần lưu ý đây là số liệu người Việt Nam nhập tịch, không tính người Mỹ gốc Việt được sinh ra ở Mỹ.

Mẫu đơn nhập tịch khiến cho cộng đồng người Việt Nam ở Mỹ tin rằng có một luật bất thành văn trong thủ tục nhập quốc tịch Mỹ, đó là đảng viên đảng cộng sản hay những ai có một mối liên hệ với đảng cộng sản sẽ không được cho phép trở thành công dân Mỹ. Gần 40 năm qua, hầu như chưa có ai đặt ra câu hỏi là nước Mỹ thật sự có cấm đảng viên đảng cộng sản trở thành công dân nước họ thông qua thủ tục gia nhập quốc tịch hay không, và nếu có thì dựa vào điều luật nào của Luật Di trú Mỹ? Tin đồn về việc một số đảng viên và con cái của đảng viên đảng cộng sản sang Mỹ sinh sống và định cư càng khiến điều này trở thành mối quan tâm của cả người Việt Nam trong nước lẫn nước ngoài.

Tiêu chí nào để một thường trú nhân có thể gia nhập quốc tịch Mỹ?

Để trả lời câu hỏi trên, chúng ta nên tìm hiểu vấn đề về tiêu chí dành cho một người thường trú nhân ở Mỹ được nhập tịch trở thành công dân.

Đòi hỏi trước tiên và có thể nói là duy nhất chính là người đó phải cho cơ quan di trú và chính phủ Mỹ nhận thấy họ đã từng (trong quá trình sinh sống như một người thường trú nhân ở Mỹ) và sẽ tiếp tục là một người gắn kết với các nguyên tắc giá trị của Hiến pháp Mỹ và đã hoàn toàn hòa nhập vào trật tự xã hội cũng như phúc lợi của Mỹ, theo Chương 316 (a) của Đạo luật Di trú và Quốc tịch (Immigration and Nationality Act (INA) 316(a). See 8 CFR 316.11.).

Theo phán quyết của án lệnh In re Shanin, 278 F.739 (D.C. Mass. 1922), sự “gắn kết” ở đây có nghĩa là người nào muốn trở thành công dân Mỹ, họ bắt buộc phải là một người tích cực ủng hộ Hiến pháp nước này.

Sự gắn kết đó bao gồm cả sự hiểu biết, tâm thức cũng như sự tình nguyện gắn bó với những nguyên tắc giá trị của Hiến pháp. Bất kỳ người nào có thái độ thù địch với cơ cấu tổ chức chính quyền Mỹ hoặc không tin vào những nguyên tắc giá trị của Hiến pháp đều không đủ điều kiện để nhập quốc tịch chiếu theo phán quyết của án lệ Allan v. United States, 115 F.2d 804 (9th Cir. 1940).

Sở dĩ luật di trú đòi hỏi người thi nhập quốc tịch phải chứng minh họ đã và sẽ gắn kết với các nguyên tắc giá trị của Hiến pháp là bởi vì Hiến pháp (bao gồm các Tu chính án) được xem là đại diện cho “sự tối cao của luật pháp Mỹ” (Supreme law of the land). Một người xin nhập quốc tịch Mỹ phải chứng minh được họ hoàn toàn tin tưởng và tuyệt đối trung thành với nước Mỹ qua việc đồng ý ủng hộ và sẵn sàng bảo vệ những nguyên tắc giá trị của Hiến pháp bằng cách cho thấy họ chấp nhận những giá trị dân chủ và tinh thần tuân thủ pháp luật. Điều này sẽ được thể hiện qua hành động đọc lời thề trung thành tuyệt đối với nước Mỹ (Oath of Allegiance) trong ngày lễ tuyên thệ gia nhập quốc tịch.

Do đó, việc một người đã từng là đảng viên của đảng cộng sản hay có một sự liên hệ (gián tiếp hoặc trực tiếp) với nó đều có thể bị xem là không gắn kết được với các nguyên tắc giá trị của Hiến pháp Mỹ nếu họ xin gia nhập quốc tịch. (INA Chương 313 và 316. 8 CFR 316).

Ngoài ra, việc một người là đảng viên đảng cộng sản hay những đảng phái độc tài khác, hay tham gia những tổ chức khủng bố cũng có thể là cơ sở để nghi ngờ tư cách đạo đức, động cơ họ xin lưu trú tại nước Mỹ, và cũng là có thể đủ để chính phủ Mỹ tiến hành thủ tục trục xuất đối với họ.

Theo Bộ An ninh Nội địa và Cơ Quan Di trú và Nhập tịch Mỹ (U.S. Citizenship and Immigration Services – Department of Homeland Security) một người nếu là đảng viên đảng cộng sản hay có liên hệ với đảng cộng sản trong vòng 10 năm trước ngày nộp đơn và cho đến ngày tuyên thệ gia nhập quốc tịch thì sẽ không được nhập quốc tịch Mỹ.

Tuy nhiên điều luật này có thể được miễn trừ nếu người xin nhập quốc tịch chứng minh được, bao gồm những điều sau đây nhưng không phải nhất thiết là tất cả: (1) việc họ tham gia đảng cộng sản hay mối liên hệ với nó là việc không tự nguyện, (2) khi tham gia họ không có sự nhận thức về mục đích của tổ chức của đảng cộng sản và khi có nhận thức về điều đó họ đã chấm dứt quan hệ với tổ chức, (3) họ đã chấm dứt quan hệ với đảng cộng sản trước năm 16 tuổi, (4) họ tham gia đảng cộng sản vì đó là sự bắt buộc phải chấp hành theo quy trình pháp luật, (5) họ tham gia đảng cộng sản vì những nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống như để có được việc làm, được phân phối thực phẩm và những nhu yếu phẩm khác, và (6) họ đã không còn là đảng viên đảng cộng sản trên 10 năm.

Từ đó có thể kết luận là Đạo luật về di trú Mỹ cho phép những người đã từng là đảng viên đảng cộng sản gia nhập quốc tịch Mỹ nếu họ chứng minh được họ thuộc trong 6 diện miễn trừ nêu trên.

Quốc tịch Mỹ có thể bị tước bỏ

Ngoài ra, nếu một người sau khi nhập tịch và trở thành công dân Mỹ, mà lại tham gia đảng cộng sản, các đảng phái độc tài khác, các tổ chức khủng bố hay các tổ chức chống lại Mỹ, Hiến pháp Mỹ, và người dân Mỹ, chính phủ có thể khởi kiện người đó ra hệ thống tòa di trú (Immigration court system) và đề nghị tòa tước bỏ quyền công dân qua hệ thống tòa án di trú.

Những người khai man trong đơn xin gia nhập quốc tịch Mỹ liên quan đến những vấn đề này cũng có thể bị kiện tước bỏ quyền công dân Mỹ.

Cần lưu ý là việc tham gia đảng cộng sản không mặc nhiên khiến cho một công dân nhập cư mất quốc tịch Mỹ, bởi đảng cộng sản được tự do thành lập và hoạt động tại đất nước này.

Đơn kiện tước bỏ quyền công dân và quốc tịch sẽ được tống đạt đến người bị kiện và họ sẽ được quyền phản bác đơn kiện cũng như phía chính phủ Mỹ phải chứng minh được lý do tước quốc tịch tại tòa với những bằng chứng rõ ràng, chắc chắn và thuyết phục (clear, unequivocal and convincing). Đây là một chuẩn mực về bằng chứng rất cao, chỉ đứng sau chuẩn mực “nghi ngờ hợp lý” (beyond a reasonable doubt) của những vụ án hình sự ở Mỹ. Nghĩa vụ phải chứng minh là trách nhiệm của phía chính phủ. Và, chính phủ phải chứng minh được các bằng chứng đưa ra cho thấy bị cáo không có “sự gắn bó” với Hiến pháp Mỹ khi tham gia các tổ chức nêu trên.

Án lệ nổi tiếng Schneiderman v. United States 320 U.S.118 (1943), một phán quyết của Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ, chính là ví dụ đơn cử cho chuẩn mực về những hồ sơ đề nghị tước quyền công dân sau khi nhập tịch vì lý do đảng phái chính trị. Người kháng án Schneiderman là di dân gốc Nga, đã đến Mỹ năm 3 tuổi vào khoảng thời gian 1907-1908. Năm 1922, Schneiderman tham gia Liên đoàn Công nhân Trẻ của thành phố Los Angeles. Năm 1924, Schneiderman nộp đơn gia nhập quốc tịch Mỹ và năm 1925 anh ta tham gia Đảng Công nhân, là tiền thân của đảng Cộng sản Hoa Kỳ. Schneiderman trở thành công dân Mỹ năm 1930. Cũng từ năm1930, Schneiderman bắt đầu giữ những vị trí lãnh đạo của đảng Cộng sản Hoa Kỳ và vào năm 1939, chính phủ Mỹ bắt đầu khởi kiện đòi tước bỏ quyền công dân của Schneiderman. Tại phiên tòa xét xử, tư cách công dân Mỹ của Schneiderman đã bị tước bỏ và thu hồi quốc tịch đối với anh.

Tối cao Pháp Viện Hoa Kỳ, sau đó, đã chấp nhận đơn kháng án của Schneiderman vì phán quyết về quyền công dân và quốc tịch Mỹ của anh sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến cuộc sống của Schneiderman khi anh có thể bị trục xuất khỏi đất nước mà anh đã sinh sống từ năm ba tuổi. Phán quyết của Tối cao Pháp viện đã lật lại bản án của Schneiderman cũng như hủy bỏ quyết định tước quốc tịch của phiên xử trước. Như lời của thẩm phán Murphy, người viết quyết định chính thức của vụ án: phía chính phủ đã không thể chứng minh là những mối liên hệ với đảng Cộng sản Hoa Kỳ của Schneiderman khiến cho anh trở thành người không có sự “gắn kết” với những nguyên tắc giá trị của Hiến pháp Mỹ cũng như Schneiderman đã không có bất kỳ hành động gì chống lại Hiến pháp và người dân Mỹ trong thời gian giữ những chức vụ của đảng Cộng sản Hoa Kỳ.

Do đó, việc một người đang là hay đã từng là đảng viên đảng cộng sản không nhất thiết là lý do từ chối việc gia nhập quốc tịch hay là bằng chứng để tước quốc tịch của công dân Mỹ. Quốc tịch Mỹ là sự cam kết giữa chính phủ Mỹ và những cá nhân tin tưởng vào những nguyên tắc giá trị mà Hiến pháp đại diện, được thể hiện qua lời thề quyết tâm bảo vệ trước nhất và trên hết sự tự do, dân chủ cũng như những quyền con người nằm trong văn bản pháp luật tối cao đó trong ngày tuyên thệ gia nhập quốc tịch.

FBI kêu gọi mọi người trong cộng đồn VN hải ngoại  hãy tích cực tố cáo các di dân gốc Việt còn là đảng viên CSVN để tiến hành thủ tục trục cuất, tước quốc tịch và vĩnh viễn không cho nhập cảnh Hoa Kỳ và các nước tự do Tây Phương

Danh sách trên 300 cán bộ Cộng Sản có tài sản trên vài trăm triệu Mỹ kim có thân nhân đang tìm cách định cư tại  Mỹ và Âu Châu Tự Do mặc dầu rất  yêu qúy trung thành với TQ.

Phan Văn Khải và con trai trên 2 tỷ USD
Nguyễn Thị Xuân Mỹ : Chủ Tịch Ủy Ban Trung Ương Kiểm Soát 417 triệu USD
Thích Trí Tịnh : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch, TW GHP 250 triệu USD
Lê Đức Anh : Cựu Chủ tịch nhà nước CSVN 2 tỷ 215 triệu USD
Trần Đức Lương : Chủ tịch nhà nước 2 tỷ 100 triệu USD
Đỗ Mười : Cựu Tổng Bí Thư CSVN 1 tỷ 90 triệu USD
Nguyễn Tiến Dũng : Đệ nhát Phó Thủ Tướng 1 tỷ 780 triệu USD
Nguyễn Văn An : Chủ tịch Ban Chấp Hành Trương Đảng CSVN 1 tỷ 70 triệu USD
Lê Khả Phiêu: Cựu Tổng Bí Thư Đảng 1 tỷ 430 triệu USD
Nguyễn Mạnh Cầm : Phó Thủ Tướng 1 tỷ 350 triệu USD
Võ Văn Kiệt : Cựu Tổng Bí Thư Đảng 1 tỷ 15 triệu USD
Nông Đức Mạnh : Tổng Bí Thư CSVN 1 tỷ 143 triệu USD
Phạm Thế Duyệt : Uỷ viên Thường vụ Thường trực TW Đảng 1 tỷ 773 triệu USD
Trần Ngọc Liễng : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 900 triệu USD
Hoàng Xuân Sính : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 784 triệu USD
Lý Ngọc Minh : Uỷ viên UBTW MTTQVN 750 triệu USD
Nguyễn Đình Ngộ : Chủ tịch UBMTTQ 656 triệu USD
Võ Thị Thắng : Phó Chủ tịch Trung ương HLHPN 654 triệu USD
Ma Ha Thông : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 590 triệu USD
Nguyễn Đức Triều : Chủ tịch TW Hội Nông dân VN 590 triệu USD
Trần Văn Quang : Chủ tịch Hội Cựu chiến binh VN 587 triệu USD
Nguyễn Đức Bình : Giám Đốc Viện Quốc Gia TPHCM 540 triệu USD
Vương Đình Ái : Phó Chủ tịch Uỷ ban ĐKCĐVN 512 triệu USD
Hoàng Thái : Thường trực Đoàn Chủ tịch 500 triệu USD
Nguyễn Thị Nữ : Chủ tịch UBTW MTTQVN 500 triệu USD
Nguyễn Tiến Võ : Uỷ viên UBTW MTTQVN 469 triệu USD
Nguyễn Văn Huyền : Nhân sĩ thành phố HCM 469 triệu USD
Nguyễn Xuân Oánh : Kinh tế Thành phố HCM 469 triệu USD
Phạm Thị Trân Châu : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 469 triệu USD
Thích Thiện Duyên : Giáo hội Phật giáo QN ĐN 469 triệu USD
YA Đúc : uỷ viên UBTW MTTQVN 469 triệu USD
Hà Học Trạc : Chủ tịch UBTW MTTQVN 400 triệu USD
Hoàng Quang Đạo : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh 390 triệu USD
Lê Hai : Tổng cục chính trị QĐNDVN 390 triệu USD
Lê Truyền : Uỷ viên Ban Thường trực 390 triệu USD
Lý Quý Dương : Dân Tộc Dao tỉnh Hà Giang 390 triệu USD
Phạm văn Kiết : Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc 390 triệu USD
Vương Đình Bích : Uỷ viên UBTW MTTQVN 390 triệu USD
Trần Đông Phong : Thường trực UBTƯMTTQVN 387 triệu USD
Trần Văn Đăng : Uỷ viên TƯ Đảng,Tổng Thư ký 364 triệu USD
Hoàng Đình Cầu : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 300 triệu USD
Lý Chánh Trung : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 300 triệu USD
Ngô Bá Thành : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 300 triệu USD
Trương Thị Mai : Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam 300 triệu USD
Hồ Đức Việt : Bí Thư thứ nhất TW Đoàn TNCS 287 triệu USD
Lâm Công Định : Uỷ viên UBTW MTTQVN 287 triệu USD
Ngô Gia Hy : Uỷ viên UBTW MTTQVN 287 triệu USD
Trần Văn Chương : Chủ tịch Hội người Viẹt Nam 287 triệu USD
Trương Văn Thọ : Bác sỹ, dân tộc Chăm 287 triệu USD
Đỗ Duy Thường : Vụ Trưởng vụ Dân chủ pháp luật 280 triệu USD
Đỗ Tấn Sỹ : Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Pháp 280 triệu USD
Lê Văn Triết : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 280 triệu USD
Lương Tấn Thành : Giáo Sư Bệnh viện Bạch Mai 280 triệu USD
Nguyễn Phúc Tuần : Uỷ viên UBTW MTTQVN 280 triệu USD
Phạm Thị Sơn : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 280 triệu USD
Lê Bạch Lan : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 269 triệu USD
Nguyễn Văn Vi : Uỷ viên UBMTTW 269 triệu USD
Trần Thoại Duy Bảo : Uỷ viên UBTW MTTQVN 269 triệu USD
Vũ Oanh Lão : thành cách mạng 269 triệu USD
Nguyễn Thị Nguyệt : Cao đài Ban Chỉnh tỉnh Bến Tre 264 triệ USD
Bùi Thái Kỷ : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh 257 triệu USD
Hoàng Hồng : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 257 triệu USD
Lưu Văn Đạt : Tổng Thư ký Hội Luật gia Việt Nam 257 triệu USD
Nguyễn Công Danh : T P. Hồ Chí Minh 257 triệu USD
Nguyễn Túc : Uỷ viên Ban Thường trực 257 triệu USD
Nguyễn Văn Bích : Uỷ Ban Kế hoạch Nhà Nước 257 triệu USD
Hoàng Việt Dũng : Giám đốc Công ty TNHH 256 triệu USD
Phan Quang : Hội nhà báo Việt Nam , Uỷ viên UBMT 256 triệu USD
Vưu Khải Thành : Tổng công ty hữu hạn BITIS 256 triệu USD
Cao Xuân Phổ : Viện Đông Nam á 254 triệu USD
Chu Văn Chuẩn : Chủ tịch Uỷ ban MTTQVN 254 triệu USD
Đăng Thị Lợi : Chủ tịch Hội Thân nhân Việt kiều 254 triệu USD
Hoàng Văn Thượng : Đại tá, Anh hùng quân đội 254 triệu USD
Lê Quang Đạo : Trung ương Mặt trận Tổ quốc N 254 triệu USD
Lợi Hồng Sơn : Uỷ viên UBTW MTTQVN 254 triệu USD
Lý Chánh Trung : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 254 triệu USD
Ngô Ngọc Bỉnh : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 254 triệu USD
Nguyễn Kha : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 254 triệu USD
Nguyễn Văn Hạnh : Uỷ viên UBTW MTTQVN 254 triệu USD
Nguyễn Văn Vĩnh : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 254 triệu USD
Đinh Thuyên : Chủ tịch hội người mù Việt Nam 250 triệu USD
Đoàn Thị ánh Tuyết : Thượng tá, Anh hùng quân đội 250 triệu USD
Lê Thành : Phó Chủ tịch Thường trực 250 triệu USD
Mùa A Sấu : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 250 triệu USD
Trần Kim Thạch : Uỷ viên UBTW MTTQVN 250 triệu USD
Lê Ngọc Quán : Mặt trận Tổ quốc tỉnh Vĩnh Phú 249 triệu USD
Nguyễn Quang Tạo : Chủ tịch liên hiệp các hội hoà bình 249 triệu USD
Nguyễn Văn Thạnh : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 249 triệu USD
Thào A Tráng : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 249 triệu USD
Trần Khắc Minh : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 229 triệu USD
Lê Minh Hiền : Thường trực UBTƯMTTQVN 215 triệu USD
Hà Thị Liên : Thường trực UBTƯMTTQVN 214 triệu USD
Ama Bhiăng : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
Âuu Quang Cảnh : Uỷ viên UBTW MTTQVN 200 triệu USD
Bế Viết Đẳng : Uỷ viên UBTW MTTQVN 200 triệu USD
Đàm Trung Đồn : Đại học Tổng hợp Hà Nội 200 triệu USD
Đặng Đình Tứ : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
Đặng Ngọc Bân : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
Đinh Công Đoàn : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
Đinh Gia Khánh : Viện Văn học dân gian 200 triệu USD
Hà Phú An : Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
Hoàng Đức Hỷ : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
Lâm Bá Châu : Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Pháp 200 triệu USD
Lê Văn Tiếu : Việt kiều tại CHLB Đức 200 triệu USD
Lương Văn Hận : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
Nguyễn Văn Tư : Chủ tịch Hội Công Thương 200 triệu USD
Phùng Thị Hải : Giám đốc Công ty TNHH Thuỷ Sản 200 triệu USD
Rơ Ô Cheo : Dân tôc Gia Lai tỉnh Gia Lai 200 triệu USD
Sầm Nga Di : Dân tộc Thái, tỉnh Nghệ An 200 triệu USD
Thích Đức Phương : Thừa Thiên Huế 200 triệu USD
Thích nữ Ngoạt Liên : Uỷ viên UBTW MTTQVN 200 triệu USD
Trần Hậu : TWMTTQVN Trưởng Ban Nghiên 200 triệu USD
Triệu Thuỷ Tiên : Dân tộc Nùng 200 triệu USD
Trương Nghiệp Vũ : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
Trương Quốc Mạo : Chủ tịch Hội nông dân 200 triệu USD
Ung Ngọc Ky : Uỷ viên uỷ ban TWMTTQ 200 triệu USD
Vũ Đình Bách : Uỷ viên UBTW MTTQVN 200 triệu USD
Mong Văn Nghệ : Dân tộc Khơ mú tỉnh Nghệ An 197 triệu USD
Đinh Xông : Dân tộc Hrê tỉnh Quãng Ngãi 190 triệu USD
Lê Công Tâm : Phó Chủ tịch Thường trực 190 triệu USD
Mấu Thị Bích Phanh : Dân tộc Raklây tỉnh Ninh Thuận 190 triệu USD
Nguyễn Ngọc Minh : Uỷ viên UBMTTQ tỉnh Huế 190 triệu USD
Phan Hữu Phục : Cao đài Tiên thiên 190 triệu USD
Trần Thế Tục : Uỷ viên UBTW MTTQVN 190 triệu USD
Hoàng Mạnh Bảo : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 187 triệu USD
Nguyễn Thị Ngọc Trâm : Uỷ viên UBTW MTTQVN 187 triệu USD
Phạm Hồng Sơn : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 187 triệu USD
Phan Hữu Lập : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 187 triệu USD
Thái Văn Năm : Phật giáo Hoà hảo 187 triệu USD
Trần Văn Tấn : Uỷ viên UBTW MTTQVN 187 triệu USD
Vi Văn ỏm : Dân tộc Xi mun tỉnh Sơn La, 187 triệu USD
Bùi Thị Lập : Uỷ viên UBTW MTTQVN 184 triệu USD
Kpa Đài : Uỷ viên UBTW MTTQVN 184 triệu USD
Lê Văn Hữu : Mặt trận Tổ quốc tỉnh Phú Yên 184 triệu USD
Nông Quốc Chấn : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 184 triệu USD
Phạm Khiêm Ich : Viên Thông tin KHXH 184 triệu USD
Phạm Thanh Ba : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 184 triệu USD
Từ Tân Vũ : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 184 triệu USD
Viễn Phương : Nhà thơ Uỷ viên UBMTTQ 184 triệu USD
Nguyễn Ngọc Thạch : Tổng Biên Tập Báo Đại Đoàn kết 180 triệu USD
Trương Hán Minh : Người Hoa TP. Hồ Chí MInh 180 triệu USD
Bùi Xướng : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 157 triệu USD
Trần Đình Phùng : Chủ tịch Uỷ ban Mặt 157 triệu USD
Hồ Ngọc Nhuận : Uỷ viên UBTW MTTQVN 156 triệu USD
Phan Huy Lê : Uỷ viên UBTW MTTQVN 156 triệu USD
Nguyễn Thống : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 154 triệu USD
Trần Minh Sơn : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 154 triệu USD
Vũ Duy Thái : Giám đốc xí nghiệp trách nhiệm hữu hạn 154 triệu USD
Chu Phạm Ngọc Sơn : Uỷ viên UBTW MTTQVN 150 triệu USD
Đỗ Hoàng Thiệu : Đà Nẵng Ngân Hàng tỉnh QN ĐN 150 triệu USD
Dương Nhơn : Uỷ viên UBTW MTTQVN 150 triệu USD
Huỳnh Cương : Uỷ viên UBTW MTTQVN 150 triệu USD
Mai Thế Nguyên : Kiến trúc sư trưởng tại Na Uy 150 triệu USD
Ngô Minh Thưởng : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 150 triệu USD
Nguyễn Ngọc Sương : Đại học Tổng hợp Thành phố 150 triệu USD
Nguyễn Văn Diệu : Chủ tịch Uỷ ban MTTQVN 150 triệu USD
Phạm Ngọc Hùng : Uỷ viên UBTW MTTQVN 150 triệu USD
Thượng thơ Thanh : HT Cao đài Toà Thánh Tây Ninh 150 triệu USD
Trần Đức Tăng : Phối sư Hội thánh Cđ Minh Chơn đạo 150 triệu USD
Trần Phước Đường : Uỷ viên UBTW MTTQVN 150 triệu USD
Lê Đắc Thuận : Giám đốc điều hành Cty VANOCO 107 triệu USD
Nguyễn Đức Thành : Chủ tịch Ban điều hành CLB 107 triệu USD
Trần Mạnh Sang : Uỷ viên UBTW MTTQVN 107 triệu USD
Amí Luộc : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USD
Bùi Thị Lạng : Thành phố Hồ Chí Minh. 100 triệu USD
Danh Nhưỡng Dân tộc Khơ me 100 triệu USD
Đào Văn Tý : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USD
Đồng Văn Chè : Chủ tịch Uỷ ban MTTQVN 100 triệu USD
Hà Den : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 100 triệu USD
Hồ Phi Phục : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 100 triệu USD
Hoàng Kim Phúc : Tổng Hội trưởng Hội Thánh tin lành 100 triệu USD
Kim Cương Tử : UBTW MTTQV 100 triệu USD
Lê Ca Vinh : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USD
Lý Lý Phà : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USD
Nguyễn Hữu Hạnh : Nhân sỹ Thành phố 100 triệu USD
Nguyễn Lân : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 100 triệu USD
Nguyễn Lân Dũng : Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội 100 triệu USD
Nguyễn Minh Biện : Chủ tịch Uỷ ban MTTQVN 100 triệu USD
Nguyễn Phước Đại : Luật sư TP. Hồ Chí Minh 100 triệu USD
Nguyễn Tấn Đạt : Phật giáo Hoà hảo tỉnh An Giang 100 triệu USD
Nguyễn Thành Vĩnh : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USD
Nguyễn Thị Liên : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 100 triệu USD
Nguyễn Thiên Tích : Chủ tịch hội y học cổ truyền VN 100 triệu USD
Nông Thái Nghiệp :Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 100 triệu USD
Phùng Thị Nhạn : Nghệ sỹ nhân dân Thành phố HCM 100 triệu USD
Sùng Đại Dùng : Chủ tịch Uỷ ban MTTQVN 100 triệu USD
Trương Quang Đạt : Dân tộc Sán Dìu tỉnh Vĩnh Phú 100 triệu USD
Tương Lai : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USD
Vũ Mạnh Kha : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Hà Nội 100 triệu USD
Hà Thái Bình : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 56 triệu USD
Nguyễn Văn Đệ : Thượng tá, kỹ sư thuộc Bộ Quốc Phòng 56 triệu USD
Trần Bá Hoành : Uỷ viên UBTW MTTQVN 56 triệu USD
Võ Đình Cường : Uỷ viên UBTQ MTTQVN 56 triệu USD
Cù Huy Cận : Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật VN 50 triệu USD
Lê Khắc Bình : Chủ tịch, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 50 triệu USD
Huỳnh Thanh Phương : ủy Quân sự thành phố Cần Thơ 32 triệu USD
Hồ Xuân Long : Dân tộc Vân kiều, Quãng Trị 15 triệu USD
Một tài liệu cũ trong báo Quốc gia, Montreal, Canada từ tháng 2/1996 trích tin Nữu Ước cho biết:
” Một thành viên cao cấp của Hội đồng mậu dịch Việt – Mỹ tiết lộ đảng CSVN được xem là một tỉ phú hàng đầu của thế giới vào năm 1995 với tài sản ước lượng lên đến 20 tỉ đôla…VN hiện nay có khoảng từ 80 đến 100 người có tài sản trên 300 triệu đô la, tất cả các tỉ phú này đều là cán bộ cao cấp của đảng.
“Ông John Shapiro, một cựu chiến binh Hoa kỳ sau 3 tuần lễ thăm VN để tính chuyện làm ăn buôn bán, phát biểu rằng các ông lớn trong đảng gồm các thành viên bộ chính trị, các bộ trưởng và thứ trưởng, ít nhất mỗi người có vợ hay con làm chủ một công ty. Theo ông J Shapiro, do việc chính phủ cho phép các công ty được chuyển ngân ra nước ngoài lên đến 500000 đô la, số ngoại tệ trong nước bắt đầu vơi đi.
“Vẫn theo ông Shapiro, có khoảng 700 đảng viên CSVN có tài sản từ 100 đến 300 triệu đô la. Đây là con số do một nhân vật cao cấp của ngân hàng trung ương cung cấp cho ông. Những đảng viên có tài sản từ 50 đến 100 triệu đô la khoảng 2000 người…Tất cả những con số về tài sản của đảng CSVN là do những chuyên viên thống kê của cơ quan mậu dịch quốc tế. Số tài sản lớn lao trên do thân nhân của đảng viên cao cấp ở nước ngoài làm sở hữu chủ. Ông Shapiro cũng nêu lên nhiều thí dụ điển hình như vợ bé của tổng cục phản gián làm ăn rất lớn ở Âu châu, em ruột của trung tướng VC, tổng cục phó tổng cục phản gián đang kinh doanh rất lớn ở Nam Cali, vợ con của Giám đốc tổng cục kinh tế và thân nhân của Đỗ Mười thủ đắc những tài sản nhiều triệu đô la ở Vancouver, Canada và cả ở New York, Houston. Trong niên khóa 94-95, hàng trăm du học sinh là con cái đảng viên tự túc. Niên khóa 95-96, con số này tăng lên gấp 3…”
Một tài liệu khác trong website mà tôi tạm dịch là mạng điểm ( cf. địa điểm, thời điểm) Hận Nam Quan tháng 5/2002 tựa là ” Giai cấp mới trong các chế độ CS ” cho biết :
“Theo tin của hãng thông tấn Reuter đánh đi từ Hà nội ngày 4 tháng 3 năm 2002 thì ĐCSVN sau khóa họp TƯ Đảng từ 18-2-đến 2-3-2002 đã chính thức ban hành một chính sách mới về kinh tế rất táo bạo: Đảng viên CS được phép làm kinh doanh tư nhân. Phạm Chi Lan, Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và kỹ nghệ tuyên bố với phóng viên của hãng thông tấn Reuter rằng:”… Đại hội đã quyết định là các đảng viên đang quản trị các xí nghiệp tư nhân có quyền ở lại trong Đảng”.
“Thật ra thì từ nhiều năm nay, các đảng viên cao cấp tuy không chính thức sở hữu một xí nghiệp tư nào cả nhưng thân nhân bà con của họ đã là chủ nhân của những xí nghiệp tư lớn nhất trong nước.
“Cứ hỏi vợ con các ông Phan văn Khải, Võ văn Kiệt, Đỗ Mười, Phạm Thế Duyệt, Trần Đức Lương, Nguyễn Tấn Dũng…là sẽ biết ai là chủ nhân của các sân golf, các khách sạn hạng sang, hãng xe taxi, hãng hàng không, nhà máy chế biến hải sản, hãng xuất nhập cảng, siêu thị lớn nhất nước.
“Ai mà không thấy sự giàu có hiển nhiên của giới lãnh đạo CS tại VN. Họ xây nhà lầu, xài tiền như nước, xuất ngoại như đi chợ, chi tiêu một lúc hàng bó đô la tiền mặt… Giới tư bản đỏ nhờ phù phép XHCN đã biến tài sản của quốc gia thành tư sản một cách thần tình, biển thủ công quỹ, buôn lậu hàng quốc cấm thế mà cứ hò hét diệt tham nhũng đến cùng.
“Theo tài liệu FYI ( Poliburos network) ngày 19/12/2000 thì các cán bộ và nhân viên cao cấp của nhà nước CS Hà nội hiện làm chủ những số tiền to lớn gửi tại các ngân hàng ngoại quốc cộng với những bất động sản tọa lạc trong nước.
– Lê Khả Phiêu : cựu tổng bí thư ĐCSVN và gia đình có 5 khách sạn (2 ở Hànội và 3 ở Saigon), tài sản và tiền mặt trị giá 1 tỉ 170 triệu Mỹ kim (US$ 1.170.000.000)
– Trần Đức Lương: Chủ tịch nước CHXHCNVN, tài sản và tiền mặt 1 tỉ 137 triệu MK
– Phan Văn Khải: Thủ tướng chính phủ, gia đình có 6 khách sạn ở Saigon, tài sản 1 tỉ 200 triệu MK.
– Nguyễn Tấn Dũng: Đệ 1 Phó Thủ tướng, tài sản 1 tỉ 480 triệu MK
– Nguyễn Mạnh Cầm: Phó Thủ tướng, tài sản 1 tỉ 150 triệu MK
– Phạm Thế Duyệt: Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc, tài sản 1 tỉ 173 triệu MK
– Tướng Phạm Văn Trà : Bộ trưởng Quốc Phòng, tài sản gồm có 10 tấn vàng và tiền mặt 1 tỉ 360 triệu MK.
– Trương tấn Sang: Chủ tịch Ủy ban Kinh tế TƯ Đảng CSVN, tài sản và tiền mặt 1 tỉ 124 triệu MK
Ngoài ra, còn một số cán bộ và công chức có 1 tỉ và trên 100 triệu MK trong danh sách liệt kê của bảng FYI này là hơn 20 người nữa.
Gần đây nhất, theo điện thư Câu lạc bộ dân chủ số 39 tháng 2/2005 trong mạng điểm Y kiến thì:
“Một nguồn tin tuyệt mật đã được tiết lộ mới đây từ một quan chức cao cấp Bộ Công an cho biết số tiền khổng lồ mà các quan chức cao cấp VN gửi tại ngân hàng Thụy sĩ.. Đáng chú ý là:
Cựu Chủ tịch nước Lê Đức Anh hơn 2 tỉ USD cộng 7 tấn vàng;
Cựu Tổng Bí thư Đỗ Mười 2 tỉ USD;
Đương kim Bộ trưởng Quốc Phòng Phạm văn Trà 2 tỉ USD cộng 3 tấn vàng;
Cựu Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu 500 triệu USD;
Đương kim Chủ tịch nước Trần Đức Lương 2 tỉ USD;
Đương kim Thủ tướng Phan văn Khải hơn 2 tỉ USD;
Đương kim Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn tấn Dũng hơn 1 tỉ USD;
Đương kim Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh 1,3 tỉ USD;
Đương kim chủ tịch Quốc hội Nguyễn văn An hơn 1 tỉ USD;
Cựu phó ủy ban thể dục thể thao Quốc gia Lương quốc Đống 500 triệu USD;
Cựu Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn mạnh Cầm hơn 1 tỉ USD;
Cựu Thứ trưởng thường trực Bộ Thương mại Mai văn Dậu hơn 1 tỉ USD.
Ngoài ra, nguồn tin cũng cho biết một danh sách dài các quan chức

Xin đọc phần tiếng Anh dưới đây

Green Card Inadmissibility Based o­n Membership in a Communist Party

When seeking U.S. permanent residency, the USCIS or Department of State will ask (among other things) whether the applicant has ever been a member of a Communist Party or any other totalitarian party. While many applicants will answer “no,” citizens of certain countries may have to disclose some type of affiliation with a Communist Party – even though membership was involuntary and there was no active participation.

Example: Sergei is a 30-year old U.S. citizen and he wants to sponsor his father, Fedor – a Russian citizen – for U.S permanent residency. In 1982, prior to the dissolution of the U.S.S.R., Fedor was required to register as a member of the Communist Party in order to qualify a government job. Since this was the o­nly job available to him, and since he had three children to support, he had no choice but to register for the sake of employment. After the dissolution in 1991, Fedor ceased any affiliation with the Communist Party and found a new job as a project manager with a private manufacturing company.

In applying for Adjustment of Status, Fedor disclosed that he had been affiliated with a Communist Party from 1982 to 1991. In doing so, Fedor may have admitted to being inadmissible for purposes of obtaining a green card.

However, there are exceptions to this inadmissibility:

Involuntary Membership

Fedor may not be inadmissible if he can demonstrate that his membership or affiliation with the Communist party was “involuntary, or is or was solely when under 16 years of age, by operation of law, or for purposes of obtaining employment, food rations, or other essentials of living and whether necessary for such purposes.”

Past Membership

Fedor may also not be inadmissible if he can demonstrate that the membership or affiliation terminated at least two (2) years before the date of application; five (5) years before the date of application (if his membership or affiliation was with the party controlling the government of a foreign state that is a totalitarian dictatorship as of such date; and he is not a threat to U.S. security. In the instant case,

Close Family Members

Finally, the Attorney General may waive the application in the case of an immigrant who is the parent, spouse, son, daughter, brother, or sister of a U.S. citizen, or a spouse, son, or daughter of green card holder for humanitarian purposes, to assure family unity or in the public interest if the immigrant is not a threat to U.S. security. Since Fedor is the parent of a U.S. citizen, and he has shown that he does not pose a threat to U.S. security, his inadmissibility may be waived by an order of the Attorney General.

Conclusion

The USCIS called Fedor and his son in for an interview, at which time he explained that he o­nly volunteered to be a member of the Communist Party in order to secure employment and that his membership ended in 1991. Since it had been more than twenty (20) years since his membership ended, and since he demonstrated that his membership was involuntary, the USCIS elected to waive his inadmissibility and grant him U.S. permanent residency.

Bình luận đã được đóng.

%d bloggers like this: