Hồi ức 30/4/1975: NHỮNG NGÀY ĐAU THƯƠNG


Phần 2.

Có những ngày, chị và anh em tôi ra chợ phụ người bà con buôn bán, má tôi đi chùa, tôi và con trai tôi cùng đứa cháu gái không một đồng đinh túi, không một hột cơm sót trong nồi. Cháu tôi lúc đó khoảng năm tuổi, rên rỉ:
-Đói bụng quá dì ơi!
Con trai tôi thì khóc vì bao tử đã cạn , bầu sữa mẹ vì thiếu ăn, đã vơi theo tháng ngày đói khổ. Tôi làm gì được đây ? Chỉ biết ngó cháu , nhìn con và khóc!

Sáu tuổi nuốt gọn khoai mì
Nước mắt ràn rụa đi thi trường làng
Tay cầm bút, miệng khoai lang
Mồ hôi nhễ nhại hai hàng lệ rơi
(Tam Vo)

Khoai mì đã từng có thời gian là ác mộng đối với dân miền Nam sau 75!
Thật vậy! Ngày xưa tôi mê khoai mì luộc chấm muối ớt, khoai mì xay sợi cho chút mỡ hành, khoai mì dầm nát ra trộn dừa rám, khoai mì mài ra vò viên nấu canh, làm bánh ít nhưn dừa, nhưn đậu ngon hết ý. Lá khoai mì thì tụi nhỏ tước làm dây chuyền đeo, thân khoai mì thì lấy chiếc đũa, đẩy phần ruột ra ngoài, xong vo tròn giấy làm đạn nhét vô thân thổi làm súng. Tôi thỉnh thoảng làm bánh khoai mì đậu xanh ăn ghiền luôn nữa đó các bạn ơi! Đủ mọi cách chế biến khoai mì, đã lôi cuốn mọi người từ già đến trẻ, từ giàu đến nghèo.
Thế mà sau này món khoai mì khô xắt lát lại trở thành bữa ăn chánh cho chúng ta, trợn mắt mà nuốt mà nhai, nôn thóc, nôn tháo với những loại khoai được du nhập từ những nơi xa xôi, khi ăn vào bị chất độc nếu không biết ngâm trước, có thể đưa đến tình trạng tử vong! Tôi đã từng ngồi không được, nằm cũng không xong trên một chiếc Camion chở đầy khoai mì khô từ Phước Long về đến Phú Giáo khi đi thăm ông xã tôi. Bận về, không còn xe đò, tôi và bà bạn đành phải quá giang Camion. Leo lên phía sau xe, tôi hối hận khi bên trong xe đầy nhóc khoai khô mà họ chất đầy, chỉ còn khoảng ba tấc là đụng đến mui. Ngồi thì không thẳng được, tôi và bà bạn đành phải nằm, xe chạy dằn, xốc cộng với tấm nệm khoai khô, mùi ẩm mốc, chúng tôi như đang lãnh cực hình suốt một đoạn đường dài hơn trăm cây số. Tới Phú Giáo, đột nhiên xe dừng lại, anh chàng lơ xe bảo chúng tôi xuống vì họ phải rẽ sang hướng khác thay vì về thẳng Bình Dương như đã hứa.
Vừa xuống xe, tôi và bà bạn nhìn nhau mà cười rũ rượi, cười đến nước mắt ràn rụa. Chuyện gì đã xãy ra ? Nếu có ai tình cờ đi ngang mà nhìn thấy chúng tôi sẽ cho đó là hai bà điên! Không thể tưởng tượng nổi, toàn thân chúng tôi phủ một lớp bột trắng, như có ai đó đã trút cả thùng bột mì lên người chúng tôi. May thay, ven đường có một vũng nước, dù dơ, tụi tôi cũng mừng rỡ chạy đến để nhúng khăn lau cho sạch, về nhà mình mẫy tôi rêm cả tuần và cũng thật mỉa mai cho cái món khoai mì.
Khi tôi về quê chồng, nơi mà coi như vựa lúa của miền Nam, trưa hè đang thiu thiu ngủ, nghe tiếng trẻ nhỏ la ầm lên:
-Ghe khoai vô, ghe khoai vô!
Thế là nhà nhà lo xúc gạo thơm trắng ngần tranh nhau, chen chúc nhau chạy ra con kênh trước nhà có chiếc tam bản đang cắm sào chờ. Cứ chục gạo thơm đổi vài ký khoai mì mà mừng không thể tả!
Má chồng tôi cũng không ngoại lệ, luộc xong nồi khoai rồi chia cho từng người theo tiêu chuẩn. Tôi nhìn mà ngao ngán! Ở Bình Dương tôi thèm một chén cơm trắng như thèm cao lương mĩ vị, về đây thì thiên hạ lại quý khoai mì như những món hàng xa xí! Sao đời lại có lắm cảnh trái ngang thế này?

Do những thảm cảnh, những áp bức mà tôi đã tận mắt chứng kiến trong một chế độ ăn cướp như vậy, làm sao mà sống được nên nhiều người đã liều chết ra đi, sống kiếp ở đậu nơi xứ người.
Vậy mà, vẻ vang thay, dân Việt Nam ngày nay định cư khắp nơi trên thế giới đã tạo nên những tiếng vang như Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh, như các Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt, Đại Tá Thomas Nguyên, Đại Tá Nguyễn Mạnh Hùng, những kỷ sư, bác sỉ tài ba đã làm cho cha mẹ rất tự hào về các cháu.

Giờ đây, hồi tưởng về quá khứ, ba mươi hai năm sống trên đất Mỹ, tôi vẫn nhớ hoài tiếng thở dài của ba khi nhìn căn nhà trống trơn, cái quay đầu buồn bã của má khi nhìn tủ thờ ông bà, bị những người thắng cuộc, ngạo nghễ bưng ra, hình ông bà cùng bình bông, lư hương họ tàn nhẫn để nằm bù lăn bù lốc xuống đất. Đêm đó, cả nhà đều khóc, khóc cho vận mệnh đất nước, khóc cho những mất mát của dân tộc, từ tinh thần, thể xác, đến vật chất.

Tôi không phải là nhà văn, tôi, một người đàn bà tầm thường đã sống qua hai chế độ, tôi đã chứng kiến những gì mắt thấy trước 1975, tai tôi đã nghe, và cũng là nạn nhân của chế độ sau 1975. Đây là câu chuyện thật một trăm phần trăm được tôi kể lại bằng chữ. Tôi muốn viết ra những điều mà gia đình tôi đã trực tiếp phải hứng chịu trong những năm còn kẹt lại trong nước. Căn nhà mà ba tôi mua sau 75, rốt cuộc cũng bị cho là mua bán bất hợp pháp vì lúc bấy giờ chính quyền không chịu ký giấy mua bán nhà, chúng tôi bị bắt buộc phải trả tiền thuê nhà cho nhà nước, tôi đã lớn tiếng với Văn phòng Nhà Đất, không chấp nhận thuê nhà bỡi vì nhà đó ba tôi đã mua bằng chính những đồng tiền mồ hôi nước mắt của ba tôi. Rốt cuộc , họ chịu nhượng bộ để chúng tôi ở nhưng với điều kiện không được bán lại cho ai.

Còn nữa, còn nhiều nỗi khổ đau mà chúng tôi vẫn phải gánh chịu trước ngày rời khỏi Việt Nam, tôi…tôi. đã hết can đảm viết nữa rồi…ai ơi!…

Fort Smith, April 1rst , 2017.

Dong trinh.

Tên thật: Trịnh Thị Đông
Sanh năm:1951
Quê quán: Bình Dương, Việt Nam
Nghề nghiệp: Giáo viên cấp 2, dạy môn Anh Văn.
Bài đã được chọn đăng:
-1 Làm dâu
-2 Halloween 911
-3 Những đêm giao thừa
-4 Con thương yêu của mẹ
-5 Lò chén

Advertisements

Đã đóng bình luận.

%d bloggers like this: