Mỹ hay Trung Quốc muốn đạp đổ Cộng sản Việt Nam?


Ảnh minh họa

Nộ Thủy(vande.org)Câu trả lời là: Mỹ muốn duy trì Cộng sản Việt Nam để tự chuyển hóa, ngược lại, Trung Quốc muốn đạp đổ Cộng sản Việt Nam càng sớm càng tốt. Nói nghe khôi hài nhưng nếu chịu khó xâu chuỗi lại mọi sự kiện và động thái của lãnh đạo ba nước Việt Nam – Mỹ – Trung Quốc thì rõ ràng, Mỹ chưa hề muốn giải trừ chế độ Cộng sản Việt Nam và có dấu hiệu nâng đỡ để Cộng sản Việt Nam tự chuyển hóa dân chủ, đa nguyên. Ngược lại, chính Trung Quốc mới là nước muốn chế độ Cộng sản Việt Nam sụp đổ càng sớm càng tốt.

Vì sao?

Vì Mỹ vẫn chưa từ bỏ quyền lợi trên Biển Đông, và có lẽ là Mỹ sẽ không từ bỏ quyền lợi của họ trên biển Đông.

Vì Trung Quốc muốn độc chiếm biển Đông và nếu được, họ sẽ xâm chiếm Việt Nam.

Nói Mỹ không muốn từ bỏ quyền lợi của họ trên Biển Đông thì có liên quan gì đến chế độ Cộng sản Việt Nam? Có đó, bài học Mỹ bỏ rơi chế độ Việt Nam Cộng Hòa, Trung Quốc tấn công Hoàng Sa và khi chế độ Cộng sản lên thay thế nắm quyền lãnh đạo quốc gia, mọi nỗ lực kêu gọi Trung Quốc trả Hoàng Sa đều vô nghĩa. Và nếu kiện, phải là chế độ Việt Nam Cộng Hòa đứng ra kiện lên Tòa Quốc tế thì may ra có hi vọng lấy lại được Hoàng Sa cho Việt Nam. Ngược lại, chế độ Cộng sản Việt Nam kiện lấy lại Hoàng sa, nghe ra có vẻ như con kiến kiện củ khoai. Và chỉ riêng Hoàng Sa không thôi, Trung Quốc cho xây dựng mọi thứ từ dân sự đến quân sự. Vấn đề này ảnh hưởng không nhỏ đến sức mạnh của Mỹ trên Biển Đông.

Bây giờ, một phần lớn Trường Sa lại rơi vào tay Trung Quốc từ/bởi chế độ Cộng sản Việt Nam. Nếu chế độ này giải thể, đương nhiên chế độ kế tiếp sẽ rất khó để kiện Trung Quốc mà lấy lại Trường Sa. Và đương nhiên là với chiến tranh trên biển, chỉ dựa hoàn toàn vào kĩ thuật, quân đội Việt Nam không bao giờ là đối thủ của quân đội Trung Quốc. Chỉ cần nhân lúc chuyển đổi chế độ, Trung Quốc nhảy vào chiếm tiếp các đảo, thậm chí chiếm luôn Hà Tĩnh, Đà Nẵng, Khánh Hòa. Xem như yết hầu của Biển Đông nằm trọn trong tay Trung Quốc. Và lúc đó, sức mạnh quân sự trên Biển Đông của Mỹ sẽ chẳng là gì so với Trung Quốc, quyền lợi của Mỹ trên Biển Đông có vẻ như lùi dần về zero!

Ngược lại, nhìn từ góc độ bảo vệ hay đạp đổ Cộng sản Việt Nam, có một phép so sánh khá khôi hài: Mỹ đưa vào Việt Nam mô hình dân chủ, nền kinh tế thị trường tự do và cạnh rtanh lành mạnh thì Trung Quốc đưa vào Việt Nam những tình báo Hoa Nam và những gián điệp kinh tế để phá hoại kinh tế, môi trường Việt Nam;Mỹ tiếp các lãnh đạo Việt Nam trên tinh thần giao lưu, xây dựng và giúp đỡ thì Trung Quốc tiếp các lãnh đạo Việt Nam với tinh thần bề trên, coi thường và ra lệnh, thậm chí áp đặt. Và đến lúc này, Trung Quốc đã lộ rõ gương mặt vắt chanh bỏ vỏ của họ, con bài Cộng sản Việt Nam không còn hiệu dụng, thậm chí trở nên vướng tay vướng chân cho việc lớn, lựa chọn đạp bỏ Cộng sản Việt Nam là lựa chọn tối ưu của Trung Quốc hiện nay.

Những biểu hiện của cú đạp bỏ này ngày càng lộ rõ, khiến cho Cộng sản Việt Nam vừa hoang mang lại vừa cố bám vào Cộng sản Trung Quốc chặt hơn. Nhưng càng bám càng thấy chết.

Có thể nói rằng tiến trình dân chủ hóa và phổ cập mô hình dân chủ trên thế giới vốn dĩ là qui luật thế giới và là sứ mệnh của những nước tiến bộ, trong đó Mỹ đi tiên phong. Và Trung Quốc cũng thừa khôn để hiểu rằng không riêng gì Việt Nam mà hầu hết các nước lạc hậu, các nước độc tài (không ngoại trừ Trung Quốc) đều có các nhà hoạt động, đấu tranh cho dân chủ, tiến bộ. Và đương nhiên là các nước tiến bộ sẽ đứng sau các nhà hoạt động này.

Trong tình trạng Việt Nam, nếu Trung Quốc không sớm can thiệp để đạp đổ chế độ Cộng sản Việt Nam thì hệ quả tất yếu là Trung Quốc sẽ không độc chiếm được Biển Đông. Vì lẽ, nếu để Mỹ hỗ trợ Việt Nam nhiều mặt, trong đó có cả vấn đề làm thế nào để chuyển hóa, đi đến dân chủ một cách tốt đẹp như Miến Điện. Và một khi chế độ dân chủ, đa nguyên xuất hiện trên dải đất hình chữ S này, một chế độ mà Cộng sản đã chấp nhận tự chuyển hóa để các thành phần, đảng phái khác cùng tham gia kiến thiết quốc gia, lúc đó, việc đưa Trường Sa, Hoàng Sa ra Tòa Quốc tế (và không ngoại trừ đấu tranh bằng vũ khí để lấy lại Trường Sa, Hoàng Sa với sự giúp đỡ của các nước tiến bộ) sẽ là cú đòn hết sức nguy hiểm đối với Trung Quốc trong giấc mộng bá chủ Biển Đông.

Chính vì vậy, cố tình đưa tình báo Hoa Nam vào dùng kế li gián Nam – Bắc để nhân dân hai miền mất tình cảm, kì thị Nam – Bắc và quay trở lại thời trước 1975, và phần khác thì đưa gián điệp kinh tế vào phá hoại môi trường Việt Nam, để dân chúng nổi giận và khi cần thiết thì hỗ trợ cho Cộng sản Việt Nam sức mạnh bạo lực để trấn áp nhân dân, điều này nhanh chóng trở thành ngọn lửa đốt cháy thành trì của Cộng sản Việt Nam.

Dù có mù người ta cũng dễ dàng nhận ra là tại Việt Nam, khoản tiền chung chi, hối lộ cho quan chức từ trung ương xuống địa phương lớn hơn rất nhiều so với việc xây dựng nhà máy xử lý chất thải. Bởi chỉ cần xây dựng một lần, hoạt động và bảo trì nó khác hẳn với khoản tiền phải chung chi dai dẳng cho giới cán bộ Việt Nam để họ bao che cho phần làm hỏng môi trường của Formosa hay bauxite Tây Nguyên. Nhưng “các nhà đầu tư” (mà thực chất là gián điệp kinh tế) đã chọn phương án tốn kém dai dẳng và nặng nề hơn, đó là hối lộ để phá hoại môi trường.

Môi trường Việt Nam ngày càng xấu đi, giới quan chức Cộng sản Việt Nam ngày càng trở nên yếu đuối, bệ rạc bởi họ bận tâm với các khoản tiền không cần đổ mồ hôi, không cần làm việc mà vẫn có mà không có thời gian để suy nghĩ về vận mệnh đất nước. Mối quan hệ giữa nhà cầm quyền Cộng sản với nhân dân Việt Nam ngày càng trở nên xấu đi, đặc biệt, trong vòng 20 năm, kể từ khi bauxite Tây Nguyên khởi công cho đến nay, mối bất đồng của nhân dân tăng cao, và cao trào là thời gian hai năm trở lại đây, khi môi trường biển Việt Nam trở nên thê thảm sau biến cố Formosa năm 2016.

Trung Quốc cùng những gián điệp kinh tế của họ đã quá thành công khi biến được một số lãnh đạo cao cấp của Việt Nam thành con rối trong tay họ bằng những khoản tiền khủng và làm cho môi trường biển trở nên chết chóc. Lúc này, ý thức dân chủ, dân quyền của Việt Nam trở nên sâu sắc hơn khi người dân hiểu ra mức độ nguy hiểm của chính sách độc tài và bưng bít của người Cộng sản. Mối bất đồng dân chúng tăng cao. Để tung tiếp đòn hiểm, Trung Quốc sẵn sàng cung cấp chuyên gia trấn áp biểu tình và khí tài cũng như nhân sự cho Việt Nam để “dẹp loạn”. Mà thực chất việc “hỗ trợ dẹp loạn” này hoàn toàn có tính toán. Nó đẩy sự phẫn uất, bất đồng của người dân đến chỗ thù hận sau khi có quá nhiều người bị lâm nạn bởi chiến dịch “dẹp loạn” của nhà nước. Và quan hệ giữa nhà nước Cộng sản với nhân dân Việt Nam bị đẩy dần đến chỗ đối đầu, một mất một còn.

Trung Quốc muốn gì?

Và một khi đất nước Việt Nam nhuộm màu xám xịt, người bất bình chiếm tỉ lệ hầu hết dân số, người thù hận nhà nước ngày càng nhiều, nạn nhân của những cuộc ruồng bố do nhà nước tổ chức ngày càng tăng, sự sợ hãi của nhà nước cũng tăng tỉ lệ và sự cầu cạnh của nhà nước đối với thiên triều Cộng sản Trung Quốc ngày càng trở nên khẩn thiết (mặc dù chưa chắc ai đã tin tưởng gì!)… Trong khi đó, vẫn với nhịp điệu cũ, Mỹ và các nước phương Tây vẫn tiếp tục cổ xúy, hỗ trợ cho hoạt động nhân quyền, dân chủ và bảo vệ môi trường cho Việt Nam. Điều này nhanh chóng tạo ra tính phân cực rõ ràng giữa thế giới tiến bộ, dân chủ với thế giới độc tài. Và điều này có hại cho chế độ Cộng sản nặng nề, hay nói sâu xa hơn là nó nhen nhóm, manh nha những cuộc lật đổ chế độ từ phía nhân dân. Khái niệm nhân dân ở đây cần phải hiểu là ngoài nhân dân thuần túy, còn gồm chứa cả quân đội nhân dân, công an nhân dân, trí thức nhân dân… Bởi yếu tố phản tỉnh trong họ sẽ kéo họ về đúng với bản chất hai chữ Nhân Dân của họ.

Và đây cũng là điều mà Cộng sản Trung Quốc mong mỏi, chờ đợi. Chỉ cần Việt Nam có một sự rối loạn hay một sự chuyển tiếp nào đó dẫn đến mất kiểm soát về an ninh quốc gia, ngay tức khắc, các đảo ở Trường Sa sẽ bị Trung Quốc đưa quân chiếm không còn một mống. Và khi chế độ mới thay thế, cơ hội kiện để lấy lại các đảo là một cơ hội rất thấp. Nó ngược hoàn toàn với điều (có thể) chính phủ Mỹ nhìn thấy, đó là sự chuyển hóa êm đẹp giữa nhà nước và nhân dân để đi đến một chế độ dân chủ và không tạo ra khoảng trống an ninh quốc gia trong quá trình chuyển tiếp. Một khi đạt được điều này, sức mạnh của Mỹ trên Biển Đông sẽ tăng lên đáng kể.

Bởi nhà nước mới, chế độ chính trị mới đã có thương thảo và đồng thuận sẽ không xóa hẳn mọi khế ước của chế độ cũ và có thể mở rộng, nâng cao thông qua những cuộc bàn thảo dân chủ hơn. Lúc này, chính phủ mới sẽ dễ dàng kiện Trung Quốc(thậm chí dùng đến sức mạnh khí tài do cộng hưởng của các đồng minh dân chủ mới thiết lập), sẽ dễ dàng hơn trong việc lấy lại các đảo Việt Nam đã bị Trung Quốc lấy mất. Và một khi nhà nước dân chủ (mới) của Việt Nam trở thành đồng minh của Mỹ và các nước phương Tây thì cơ hội hà hiếp Việt Nam trên Biển Đông của Trung Quốc sẽ xuống ở mức thấp nhất. Với tư cách đồng minh của Việt Nam (dân chủ), Mỹ dễ dàng triển khai quân sự, khí tài trên Biển Đông. Và đương nhiên, quyền lợi của Mỹ trên Biển Đông không hề nhỏ!

Có thể nói rằng hiện tại, cái đau đớn nhất của người Cộng sản Việt Nam là họ đã bị Cộng sản Trung Quốc đầu độc và cho lún sâu vào cái hố bất hòa với nhân dân, không những vậy, cái bẫy hỗ trợ quân sự, hỗ trợ kinh tế, hỗ trợ trấn áp biểu tình (mà thực chất là cài cắm quân sự, phá hoại môi trường và rút ruột tài nguyên bằng con đường hối lộ dưới lớp vỏ đầu tư kinh tế, và kích động thù hận bằng cách cho vay bạo lực công an)… nhằm đẩy Cộng sản Việt Nam đến chỗ tàn phế và sụp đổ. Và điều này nằm ngoài những dự tính của cả Cộng sản Việt Nam cũng như nhân dân Việt Nam. Bởi hiện tại, ai cũng nghĩ rằng Cộng sản Việt Nam là anh em, bạn bè 4 tốt, 16 vàng với Trung Quốc và Cộng sản Trung Quốc là đàn anh, là chỗ dựa của Cộng sản Việt Nam. Nhưng đừng nhầm!

Hi vọng trước chuyến thăm Mỹ sắp tới, Nguyễn Phú Trọng sẽ nhận ra điều này và tỉnh ngộ ra vị trí của ông ta cũng như của đảng Cộng sản Việt Nam trên bàn cờ của Cộng sản Trung Quốc. Vì cơ hội của Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam rất cao khi Nguyễn Phú Trọng thăm Mỹ một cách nghiêm túc và không có ý đồ “phân hóa cái nội bộ của… Đô-Na-Trâm”!

Nộ Thủy

Advertisements

Đã đóng bình luận.

%d bloggers like this: